Men vi sinh BIOnAQUA 1-MV và Qui trình kỹ thuật áp dụng xử lý ao nuôi tôm công nghiệp
(Ngày cập nhật 09/04/2010)
Qui trình này tham khảo của các nhà nghiên cứu hợp tác giữa Công ty Advanced Microbial Systems, Inc. P.O. USA và Trại nuôi tôm P.T. Moisson Makmur, JI. Daan Mogot. Indonesia. Chúng tôi chọn giới thiệu qui trình này trên cơ sở khảo sát thực tế điều kiện điạ lý, khí hậu, trình độ… các vùng nuôi tôm, giống tôm giữa Việt nam và Indonesia có nhiều yếu tố tương đồng. Các điều kiện trong qui trình có thể áp dụng và Qui trình hướng dẫn tỷ mỉ, dễ hiểu. Ước mong áp dụng thành công của Indonesia cũng thành công ở Việt nam và các nhà nuôi tôm chúng ta sẽ gìn giữ được các cánh đồng nuôi tôm "màu mỡ" bền vững. Xin trân trọng giới thiệu đến các nhà nuôi tôm và bạn đọc quan tâm tham khảo.
I. GIỚI THIỆU
Từng bước, Qui trình nuôi đã được nghiên cứu triển khai giúp các nhà nuôi tôm sử dụng chế phẩm vi sinh một cách thoả đáng để làm sạch nguồn nước và cặn đáy duy trì điều kiện môi trường tối thích trong thâm canh nuôi tôm mật độ cao. Mất 7 năm nghiên cứu ở trại nuôi tôm sú Penaeus monodon ở Indonesia để triển khai qui trình nuôi tôm sau đây. Các tiếp cận và các kỹ thuật khác nhau đang hiện hành thì khác nhau trên thế giới. Các nhà soạn thảo qui trình này không mong đợi nuôi tôm phải nhất thiết tuân thủ chính xác tất cả những khuyến nghị giới thiệu trong qui trình này. Tuy nhiên, để đạt được sự thành công của chương trình nuôi này, các nhà nghiên cứu khuyến nghị người nuôi tôm cần bám sát qui trình này từng bước như có thể trong quá trình nuôi. Điều này đảm bảo cho sự thành công của thâm canh tôm.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG THÂM CANH TÔM MẬT ĐỘ CAO
Sự tích tụ các chất hữu cơ ở đáy ao nuôi dẫn đến các điều kiện môi trường xấu đi và những ảnh hưởng bất lợi lên nuôi tôm. Người ta không thể tách riêng nuôi thuỷ sản khỏi kiểm soát môi trường nuôi nó. Có khoảng 50% thức ăn được cho vào ao nuôi không được tôm ăn ngay (Chamberlain, 1988). Khi con tôm kiếm được một viên thức ăn, nó đưa viên thức ăn vào miệng và cắn vỡ nó thành nhiều mẩu nhỏ, nó ăn một số mẩu, và một số mẩu rơi xuống lắng dưới đáy ao. Điều này được gọi là "ăn luộm thuộm". Thức ăn rơi vãi và phân tôm tạo thành một phần của các chất hữu cơ gọi là các mảnh vụn. Các vi khuẩn hiếu khí phá huỷ các vụn này qua một loại các phản ứng của enzymes dẫn đến tạo thành các sản phẩm trong nước và các chất dinh dưỡng như amonia, phosphate và carbondioxide. Sự tạo ra các enzyme để hòa tan các chất rắn xảy ra khi các chất hữu cơ hòa tan bị hạn chế (Jarnagin và Ferrari. 1992). Tuy nhiên, có một hàm lượng các chất hữu cơ không hòa tan từ các thực phẩm giàu dinh dưỡng, điều này tạo áp lực chọn lọc riêng cho một vài loại vi khuẩn phát triển nhanh. Các vi khuẩn này trở thành trội, dẫn đến làm giảm đa dạng vi sinh (Torsvik et al. 1993). Kết quả là một sự phát triển mạnh theo hướng của quần thể vi khuẩn không ổn định không thể phân huỷ các chất hữu cơ tải xuống (Torsvik et al. 1996). Hệ thống nuôi tôm mật độ cao tích tụ các chất thải hữu cơ nhanh hơn nhiều với xử lý phân huỷ mà tự nhiên có thể làm được. Chất thải này tiếp tục tăng lên do lên men và thức ăn tiếp tục tải xuống. Các lớp chất thải hữu cơ bị lắng xuống do các đợt mảnh vụn liên tục đổ xuống, chúng cắt nguồn cung cấp ô xy. Oxy có trong ao được các vi khuẩn và các sinh vật có lợi sống ở đáy ao tiêu thụ. Những yếu tố thuận lợi cho sự phân huỷ bị giảm trong cặn kị khí dẫn đến sự tích tụ các khí sulphide, methane và các thành phần độc khác (Raveh et al 1979) khiến cho tôm tăng sự nhạy cảm với các yếu tố bất lợi như : Oxy hoà tan thấp, các mức nhiệt độ dưới mức tối thích, ức chế sự phát triển bình thường và giảm sự đề kháng với bệnh (Spotte 1970). Tôm tránh các vùng ao, nơi mà cặn nhiều làm giảm điều kiện thuận lợi của nó. Nó tập trung vào nơi có đáy sạch hơn, và như vậy làm xáo trộn phân bố tôm trong ao nuôi.
1. HỆ THỐNG NUÔI
Tùy vào mật độ, các ao nuôi tôm được xếp thành: quảng canh, bán thâm canh và thâm canh (mật độ cao) (Apud et al. 1985). Qui trình này được áp dụng cho hệ thống nuôi thâm canh mật độ thả giống thay đổi từ 400 000 đến 150 000 poslarva trên một héc-ta. Nuôi nhân tạo thực hiện ở mọi thời gian suốt quá trình nuôi, và hoàn thiện bằng nguồn nước dùng bơm và sục khí.
2. THIẾT KẾ AO NUÔI
Các ao nhỏ (0,25 đến 0,5 héc-ta) thực hiện khá dễ dàng. Các ao nuôi tôm thường áp dụng chương trình nuôi này có các diện tích bề mặt 3 500m2. Các ao được thiết kế có một bể bê tông ở trung tâm. Các ống PVC có đục lỗ chạy dọc theo đáy ao và tỏa ra từ bể trung tâm cho phép loại bỏ bằng cách hút ra các thức ăn thừa và phân khỏi ao nuôi vào bể bê tông. Nước thải từ bể bê tông được dẫn vào một ao lắng 750m vuông. Nước bề mặt từ ao lắng được dẫn vào ao ôxy hóa trước khi tái sử dụng qua hai đường ống (đường kính 8-10inchs) vào ao nuôi tôm với tỷ lệ 25%/ngày. Mỗi hệ thống nuôi sau đó nối với 1 ao nuôi và 2 ao xử lý nước. Phương pháp ống dẫn trung tâm thường dùng ở Đài loan và mạng lưới ống hút thường dùng ở Đông Nam Á. Thay nước, tự nó không hiệu quả làm sạch đáy ao
3. CHUẨN BỊ NỀN ĐÁY AO
Sau khi thu hoạch và rút nước ao, các chất hữu cơ còn phải được loại bỏ khỏi đáy hồ (Chanratchakool, 1996) hoặc nạo vét ao hay rửa xối đi với vòi nước mạnh. Nền ao được rải vôi bột (1,5 tấn trên 1 héc-ta), được sới lên rồi rải vôi lần thứ 2 (1,5 tấn trên 1 héc-ta) và phơi khô dưới nắng. Tránh dùng nhiều vôi quá làm mất phosphate của ao do tạo thành calcium phosphate kết tuả (Hepher, 1958) . Các ao được đổ đầy nước mặn 8ppm muối.
4. XỬ LÝ NƯỚC
Các ao nuôi không được phép dùng như ao chứa cặn lắng. Sự lắng cặn của đất sét hoặc các chất hữu cơ là một bước quan trọng trước khi cho nước vào ao nuôi (Chamberlain, 1988). Nước chưa xử lý không bao giờ được bơm trực tiếp từ nguồn tự nhiên vào hệ thống ao nuôi vì nguy cơ có các ký sinh trùng và mầm bệnh (Spotte, 1970; Kasornchandra & Boonyaratepalin, 1996; Chanratechakool, 1996).
- Chọn lựa đầu tiên, các nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng nước biển được cho vào để ôxy hóa ao và xử lý với chế phẩm vi sinh trước khi cho vào ao nuôi .
- Chọn lựa thứ 2 để kiểm soát vi sinh là dùng nước nuôi cũ. Chủng đã tăng trưởng trong nước nuôi cũ có hiệu quả nhanh và làm ngắn bớt thời gian ủ men trong ao mới (Spotte, 1970). Không dùng nước nuôi cũ nếu có bất kỳ thông tin hay kết luận nào nước nuôi cũ có nhiễm Vibrio hoặc virut.
- Chọn lựa thứ 3 là sau khi tiệt trùng nước nuôi, xử lý tiếp theo là cho vào nước chế phẩm vi sinh.
Lọc nước sau khi lắng cặn làm giảm các ký sinh trùng nhưng không giảm được vi khuẩn và virut. Clo hoá có thể làm giảm đậm độ vi khuẩn và virut; tuy nhiên cho CPVS vào nước nuôi phải được làm ngay sau khi xử lý bằng Clo để kiểm soát xự nhân lên của các vi sinh cơ hội, bất lợi không mong đợi phát triển nhanh ngay sau xử lý. Nguyên nhân khác để phải dùng CPVS sau khi dùng Clo và các chất hiệt khuẩn có chứa halogen xử lý nước nuôi có chứa các halogen tự do tạo thành độc với các sinh vật. CPVS được cho vào tạo ra một môi trường nước được "chín muồi" trước (mature), giúp con tôm thích nghi dễ dàng hơn.
5. CHUẨN BỊ MEN VI SINH TRƯỚC LÚC THẢ TÔM CON GIỐNG (POSTLARVA)
Hướng dẫn này là tối ưu về kinh tế dùng chế phẩm vi sinh trong các diện tích lớn ao nuôi tôm sinh thái công nghiệp. Hỗn hợp 0,5kg thức ăn tôm với 50g Chế Phẩm Vi sinh (ví dụ BIOnAQUA 1-MV ) và 10 lít nước sạch. Có sục khí tối thiểu là 6 giờ, tốt nhất là 24 giờ. Dùng từ 100-200g ( BIOnAQUA 1-MV )cho một héc-ta ao nuôi hàng ngày cho đến khi độ trong của nước giảm còn 50cm. Thả 45 poslarvae 20 cho một mét vuông (hiện nay ở ta thả postlarvae từ 10-14 mạnh khoẻ). Chọn giống poslarvae chất lượng tốt, đủ tuổi để tránh bệnh.
Tôm giống phải qua các sàng lọc, không có các bệnh đặc biệt trong danh sách liệt kê (specific pathogen free -SPF), số lượng các cá thể khỏe phải cao.
1. BIOnAQUA 1-MV Cần cho vào từ lúc nước ao đã xử lý sạch, cho vào khoảng 3-7 ngày trước khi thả tôm nuôi. 2. Sau khi thả tôm giống dùng 100-200g BIOnAQUA 1-MV một tuần 1 lần cho đến lúc tôm được 8 tuần tuổi. 3. Từ tuần tuổi thứ 9 -16 tuần tuổi dùng 200g BIOnAQUA 1-MV /tuần 4. Trường hợp có nguy cơ mùa tôm bị bệnh phân trắng, bệnh phát sáng có thể tăng 200-300g BIOnAQUA 1-MV/tuần.
6. SỤC KHÍ
Nước nuôi phải được sục khí mạnh để có nhiều ôxy. Sục khí sục các cặn lên. Điều này cũng giúp cải thiện sự phân huỷ vi sinh các chất hữu cơ, thuận lợi do làm tăng diện tiếp xúc cuả các hạt lắng với hoạt động của vi sinh dưới điều kiện đủ ôxy. Mức ô xy đủ cho nuôi tôm phải không thấp hơn 3 ppt ở đáy ao và trung tâm ao. Mức ôxy hoà tan thấp được công bố là tăng dịch bệnh virut như bệnh "virut đầu vàng" (Flegel 1996). Phải tắt thiết bị sục khí trong lúc cho tôm ăn để giữ thức ăn trong các khay, như thế có thể đánh giá được mức tôm tiêu thụ thức ăn. Vị trí đặt thiết bị sục khí được khuyến nghị là đặt ở trung tâm ao. Vị trí này giúp cặn bùn đáy tập trung vào giữa ao giúp hút ra dễ hơn. Các thiết bị sục khí là loại tuabin (Turbo Aerator) có hiệu quả cung cấp Oxy tốt hơn loại mái chèo (Paddlewheel Aerator). Hơn nữa, Paddlewheel Aerator chỉ sục cặn bùn tạo ra các hàng hẹp ở đáy ao. Sự thay đổi vị trí của Paddlewheel khó giúp cải thiện kiểm soát cặn đáy.
7. CHO ĂN
* Chỉ dùng các thức ăn tôm có chất lượng cao, ô nhiễm thấp không bị rã trong nước ít nhất trong 1 giờ đầu tiên (cần kiểm tra độ phân rã).
* Thức ăn cần cho poslarvae phải được xác định bằng cách đặt 10g thức ăn trong 4 khay, thả xuống ao và xem sự tiêu thụ sau 3 giờ. Thời gian ăn bắt đầu dựa theo mức tiêu thụ trong các khay. Các khay này đặt khoảng cách tối đa 12m trong các ao để giám sát mức ăn của tôm (24 khay cho ao 5 000 m vuông. Thêm 1% vào các khay.
* Đậm độ thức ăn phải được tăng lên hoặc giảm xuống theo chương trình giám sát tiêu thụ thức ăn, thời gian tôm ăn và đậm độ thức ăn. Thời gian ăn giảm đi khi tôm lớn, 2 giờ cho junenile và giảm còn 40 phút cho kỳ cuôí. Khuyến nghị cho ăn mỗi 4 giờ 1 lần (6 lần/24 giờ). Tôm có hệ tiêu hoá nhỏ chúng no nhanh chóng, và không ăn nữa gây nên thức ăn thừa thành chất thải. Tránh cho ăn thừa.
III. NHỮNG YÊU CẦU TUÂN THỦ QUI TRÌNH NUÔI THOẢ ĐÁNG
Ghi chép đầy đủ, chi tiết là chià khoá của thành công
1. GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Các thông số về chất lượng nước như:
1. Độ sâu 2. PH 3. Độ mặn 4. Oxy hoà tan 5. Độ trong của nước
phải được giám sát ghi chép hàng ngày.
1. Độ carbonate 2. Phosphate hoà tan 3. Nitrite 4. Ammonium 5. Hydrogen sulfide 6. Chất hữu cơ
được giám sát mỗi 4 ngày
Đậm độ phosphate phải được điều chỉnh suốt quá trình nuôi bằng cách thêm super phosphate. Mức lý tưởng cho 70 ngày đầu là 0,4-0,9 ppm PO4 -3, và có thể giảm xuống 0,2-0,4 ppm 70 ngày cuối. Các phosphate rất quan trọng cho bước lên men (bloom) và sức khoẻ của tôm. Tôm có vỏ mềm do mức phosphate trong nước thấp, và dễ nhạy cảm với cả virut như "virut đốm trắng", một hiện tượng phổ biến là sự kích thích xảy ra với nhiễm vi khuẩn và virut, thông thường bởi các phẩy khuẩn Vibrios ảnh hưởng đến vỏ tôm ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm. Vỏ tôm, nơi bị nhiễm vi khuẩn đầu tiên tôm bị sốc và yếu, dễ bị nhiễm virút. Thông thường, tôm có vỏ khoẻ mạnh thì đề kháng tốt hơn với các nguồn dịch. Các chất hữu cơ hoà tan có thể được giám sát bằng một phương pháp đơn giản đó là đặt 2 cái pole thành một hàng, cách nhau mỗi 10m ở phía trước thiết bị sục khí. Nếu các bong bóng có kích thước bằng quả bóng gof được tạo ra ở giữa thiết bị sục khí và cái pole đầu tiên, thì các chất hữu cơ hoà tan tải xuống không thành vấn đề. Nếu các bong bóng tạo ra do cái pole đầu tiên và cái pole thứ 2 thì cần một thay đổi nước vừa phải. Cuối cùng, nếu các bong bóng thoát ra từ phí bên kia của pole thứ 2, thì thay một lượng nước lớn là cần thiết.
2. GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG TÔM
Các mẫu tôm (khoảng 100 mẫu) phải được lấy mẫu mỗi 10 ngày để kiểm tra :
1. Trọng lượng 2. Màu sắc 3. Độ búng của các chân và râu 4. Mang thở 5. Độ trống của ống tiêu hoá 6. Mầm bệnh
3. GIÁM SÁT VI SINH
Xét nghiệm vi sinh nước là quan trọng để xác định những điều kiện mà tôm tiếp xúc. Những xét nghiệm này có thể làm 5 ngày một lần, bao gồm:
- Đếm tổng số vi khuẩn hiếu khí, Đếm các vi khuẩn có nha bào, Các vi khuẩn Gram (+); Vi khuẩn Gram (-) .
- Tổng số Vibrios, Vibrios phát sáng, Các khuẩn lạc Vibrios màu vàng và màu xanh bằng môi trường nuôi cấy thiosulfate citrate bile sucrose agar (TCBS).
Sự giảm tỷ lệ Vibrios/ tổng số vi khuẩn khác giữa ao dùng chế phẩm vi sinh và không dùng chứng tỏ hoạt động tốt của chế phẩm vi sinh. Các ô nhiễm vi khuẩn thay đổi cả về chất lượng và số lượng trong nước và như đã nói ở trên, có một sự giảm về đa dạng vi khuẩn trong các ao nuôi tôm thâm canh. Thông thường, tất cả các chủng vi khuẩn cần thiết cho sự phân huỷ chất hữu cơ thoả đáng thường không có mặt trong hệ thống nuôi này nên cần bổ sung thích hợp
IV. DÙNG CHẾ PHẨM VI SINH ĐỂ NUÔI TÔM THÀNH CÔNG
Làm sạch sinh học và kiểm soát sinh học các mầm bệnh vi sinh được thực hiện qua tăng cường vi sinh. Tăng cường sinh học là một sự xử lý bằng các chủng hoặc các quần thể vi sinh đặc hiệu được cho vào một hệ thống để kích hoạt một xử lý sinh hoá như tiêu huỷ các chất hữu cơ. Để có được lơị ích tối ưu từ Chế phẩm Vi sinh (CPVS), các yếu tố môi trường phải được thực hiện đủ để kích hoạt các hoạt động của vi sinh.
* CPVS có các Bacillus subtilis, B. megaterium và B. polymyxa, ... các vi khuẩn này được chọn lọc về khả năng của chúng để tấn công các chất hữu cơ và khả năng chuyển hoá các protein, carbohydrate, các chất béo, các chất dầu và các acid hữu cơ - những thành phần chính trong thức ăn và phân của tôm thành các các thành phần hữu cơ đơn giản .
* Kết quả cuối cùng của các hoạt động của quần thể vi khuẩn trong CPVS xử lý các ao là tạo ra carbon dioxide và nước thay vì các chất nhầy nhớt. Các chất này, là đặc trưng được tạo thành bởi các vi khuẩn cư trú tại chỗ ở đáy ao, làm ô nhiễm ao. Độ đục và bọt của nước bị tăng lên là đặc trưng của hệ thống nuôi tôm thâm canh, điều này làm hỏng sự liên tục tiêu huỷ chất hữ cơ mà ao liên tục nhận. Mặt khác, nước nuôi màu xanh lục đã ủ men vi sinh đầy đủ và không tạo bọt là đặc trưng của ao nuôi xử lý CPVS đúng và chất lượng tốt.
* CPVS có các nha bào của B. licheniformis có khả năng tạo ra lượng lớn enzyme thuỷ phân có thể phân huỷ các chất hữu cơ thối rữa ở đáy ao, giảm tích tụ bùn và khí H2S đen bị tải xuống bùn. Sự hư hỏng của các chất lắng đáy ao trong các ao không được xử lý có thể được xác định dễ dàng khi các ao được để trống.
Tôm là những cư dân sống ở tầng đáy. Tôm tiếp xúc ở mức ôxy thấp và chất độc tạo ra từ thành phần hiện diện ở đáy sẽ khuyếch tán vào cột nước trong các ao nuôi được chăm sóc kém. Điều này giải thích tỷ lệ sống thấp và lớn chậm thường thấy trong nuôi tôm thâm canh không bổ sung nhóm BIOnAQUA 1-MV. Ngược lại, chất hữu cơ thừa tải xuống giảm ở các ao được xử lý với .
* Tăng cường sinh học với CPVS xác lập chu trình dinh dưỡng hợp lý, kết quả là sự đảo ngược chất thải hữu cơ thành các chất dinh dưỡng vô cơ và sinh khối vi khuẩn thành nguồn thức ăn cho tôm, hay một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua chu trình vi khuẩn. Xử lý này được gọi là "Làm sạch sinh học".
* Phân tôm nuôi công nghiệp là nguồn reo rắc mầm bệnh virút và vi khuẩn (Brook, 1992; Flegel, 1996). Sự hư hỏng môi trường các ao nuôi đóng một vai trò quan trọng trong gây sốc cho tôm và đưa đến nhiễm khuẩn (Chanratechakool, 1996).
* Sử dụng bừa bãi thuốc kháng sinh, thỉnh thoảng phòng ngừa đã đưa đến phát sinh các chủng vi sinh gây bệnh kháng thuốc rất khó tiêu diệt. Các hoá chất chẳng hạn như formalin được đánh giá là chất tiệt trùng chống virút. Tuy nhiên, xử lý này có thể ảnh hưởng đến phát triển của các sinh vật phù du cũng như làm giảm mức ôxy hoà tan trong ao. Các hoá chất trị liệu sẽ chỉ là một giải pháp tình thế kiểm soát bệnh trong một chương trình kiểm soát và phòng bệnh toàn cảnh. Tăng cường sinh học với Chế Phẩm Vi Sinh thực hiện do cạnh tranh loại trừ các vi khuẩn cơ hội, bao gồm bệnh gây nên do các vi sinh như Vibrios. Xử lý này gọi là kiểm soát sinh học. Phạm vi tác động của các bệnh do vi khuẩn và virut đang lưu hành ảnh hưởng lên các tại tôm Đông Nam Á đã được đánh giá đầy đủ và ổn định từ Trại P.T. Moisson Makmir bởi qui trình kỹ thuật được giới thiệu sau đây. Gía thành sử dụng CPVS được ghi lại qua nhiều năm như sau.
Các thông số ở Trại P.T. Moisson Makmir dùng CPVS xử lý ao nuôi
|
Các chỉ tiêu
|
Trại đối chứng (Không dùng CPVS)
|
Trại MoissonMakmur (Dùng CPVS)
|
|
Trọng lượng trung bình tôm(g/con)
|
29
|
40-41
|
| Năng suất tôm(tấn/ha) |
1-4
|
6- 7
|
| Giá thành sản phẩm(USD/kg tôm) |
4,58
|
5,83
|
| Giá chi phí(USD/kg tôm) |
7,80
|
10,00
|
| Lợi nhuận/kg(USD/kg tôm) |
3,22
|
4,17
|
| Lợi nhuận/ha(USD/ha) |
3220 - 12880
|
25020 - 29190
|
Chế phẩm vi sinh có đậm độ vi sinh cao, giá thành thấp. Với cách ủ CPVS như hướng dẫn đã mô tả, Người nuôi tạo ra gấp 50 lần số lượng sinh khối vi sinh có ban đầu. Khi ủ trước như vậy, Trại nuôi có 2 cái lợi :
- Thứ nhất là bạn có một số lượng vi sinh tăng cường rất lớn
- Thứ hai là vi khuẩn đang phát triển ở giai đoạn tăng tưởng mạnh nên chúng ở thể hoạt động chuyển hoá và sẵn sàng phân huỷ ngay các chất hữu cơ có mặt trong ao nuôi.
|
Vùng nuôi tôm công nghiệp tốt nhất là vùng có sự hợp tác giữa các chủ trại cùng dùng chế phẩm vi sinh xử lý tòan bộ khu vực nuôi, đồng bộ, triệt để giúp xử lý và giữ sạch tòan bộ vùng nước nuôi thâm canh công nghiệp.
Luôn khắc vào đầu : Nước nuôi lan truyền mầm bệnh cũng nhanh như chiến tranh sinh học.
Hóa chất diệt khuẩn và kháng sinh đồng nghĩa với hủy họai nguồn nuôi các lòai thủy canh và cuộc sống của người nuôi, doanh nghiệp và tòan bộ uy tín xuất khẩu sản phẩm
Cần lựa chọn dùng các chế phẩm vi sinh xử lý ao nuôi công nghiệp có uy tín và chất lượng là quyết định 50% thành công của trại nuôi
THỊNH VƯỢNG - MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG
|
-------------------------
TS. Hồ Thị Hồng Nhung MAI VIET- BIO
|